Love is wonderful: Một thoáng bình yên cho trái tim êm đềm

Thứ Ba, 27 tháng 3, 2012

500 và 500.000



Truyện rất ngắn

Một ngày nọ, trong một chuyến phiêu lưu, một tờ giấy bạc trị giá 500 gặp một tờ bạc khác trị giá 500.000.
500 hỏi:
- Cậu thật to và thật đẹp, hãy kể cho tôi nghe những nơi mà cậu đã đi qua.

500.000 kiêu hãnh trả lời:
- Tớ chu du đó đây, đến những sòng bạc sang trọng, ngang qua đại dương trên những du thuyền đắt tiền, tham dự những trận bóng đá đỉnh cao của thế giới, ghé thăm những quán bar, vũ trường lấp lánh ánh đèn... còn cậu đã đi những đâu?

- Đến với những mảnh đời bất hạnh - 500 nhẹ nhàng đáp.

-Đọc ở một nơi nào đó-

Thứ Ba, 20 tháng 3, 2012

Cuộc gặp gỡ vô tình


Truyện ngắn

Chiếc xe khách từ từ dừng lại. Chú lơ xe vừa nở nụ cười vừa đưa tay kéo bổng tôi lên. Thật dễ chịu! Lại nhớ cái thời bao cấp, mấy ông xe khách chỉ kém ông trời, hành khách thì bị coi như lợn. Hoan hô đổi mới, hoan hô đủ mọi thành phần kinh tế, hoan hô Bộ Giao thông Vận tải, nhất là những công ty xe khách đường dài. 
Tôi loạng choạng đi về phía sau xe, cô gái ngồi một mình nhếch mép cười như mời tôi ngồi cùng. Tín hiệu của đàn bà thì đàn ông bắt nhanh lắm. Động tác nhích người vào phía trong chính là lời mời mọc. Còn gần 300 cây số nữa mới tới thành phố trung tâm, có người bạn đường thế này thì sướng nhất thế giới rồi còn gì. Sáng nay ra ngõ mình gặp ai thế nhỉ? À phải rồi, gặp một con trâu cái nhà hàng xóm, hình như nó có chửa nữa. Ánh mắt con trâu nhìn tôi có cái gì đó rất lạ. Liệu đó có phải là sự linh ứng với việc gặp gỡ cô gái trên chuyến xe này? 
Tôi nhẹ nhàng ngồi xuống ghế, một chút va chạm nhẹ vào người cô gái. Sự may mắn đến quá nhanh, ánh mắt cô ta có vẻ rất chân thành. Tôi cố tình không vồ vập, mặc dù trong lòng như đang có lửa cháy. Mùi thơm rất nhẹ từ một bông hoa rừng cài trên tóc cô càng như đốt trái tim tôi. Cần phải lấy can đảm thể hiện mình là một người đàn ông có bản lĩnh trước gái đẹp - tôi tự nhủ lòng mình như vậy. 
Tôi sắp xếp chiếc cặp ở một vị trí hợp lý dưới chân. Lại một sự đụng chạm khe khẽ nhưng vô tình, thật tuyệt. Tôi đang vắt óc tìm một câu làm quen sao cho lịch sự nhất, ga lăng nhất, biết rằng những câu nói đẹp cực kỳ có tầm quan trọng trong giây phút đầu tiên. 
Chú nhóc lơ xe tiến tới, chìa tay về phía tôi: 
- Dạ, xin anh chị tiền xe. 90 ngàn một vé. 
Hóa ra bây giờ nhà xe mới thu tiền. Cô gái đẹp mở ví. Tôi nhanh hơn đưa tờ 200 ngàn cho chú lơ: 
- Trả luôn cho cô này nhé. 
Cô gái lấy 90 ngàn trả cho tôi. Một phút lưỡng lự, tôi thể hiện như muốn tặng chiếc vé, số tiền chẳng đáng là bao. Cô gái cố nhét tiền vào tay tôi. Có lẽ còn sớm quá để tặng, tôi nhận lại tiền. Dù sao cũng là cái cớ để làm quen. Chúng tôi bắt đầu nói chuyện, những chuyện tầm phào. 
Xe chạy đều đều, đường vùng cao nhưng đã được đổ bê tông bằng phẳng khiến người trên xe không có cảm giác đang đi qua địa bàn một huyện miền núi. Chiếc xe bất ngờ nghiêng mạnh khi chạy qua một cua tay áo. Cô gái nghiêng đầu vào vai tôi, một cảm giác dễ chịu lan tỏa êm êm chạy khắp người. Cảm ơn đoạn đường cua tay áo nhé, tôi cười thầm với chính mình. Không biết còn bao nhiêu khúc cua gấp thế này nữa nhỉ? Ước gì có thật nhiều đoạn đường cong. Cô gái lấy lại thăng bằng. Một chút gượng gạo, cô vuốt lại mái tóc bồng bềnh như mây. Tôi tranh thủ ngắm kỹ hơn cô ta. Đúng là một người đẹp, nhưng nét ngây ngô lại chứng tỏ nàng chắc chắn gốc gác miền sơn cước. Với kinh nghiệm nhiều năm đi miền núi, tôi biết, cô nào đẹp thì rất đẹp. Vẻ đẹp hoang sơ khi thêm một chút trang điểm bỗng chốc hóa thiên thần. Hình như tôi đang có cảm giác chìm dần vào đôi mắt của cô gái này, một đôi mắt sâu thẳm và trong veo như hồ Baikan ở nước Nga xa tít. 
- Em là sinh viên học ở Hà Nội phải không? 
Cô gái cúi nhẹ, chiếc cằm dài thon như trái xoài cát chạm vào chiếc nơ trên ngực. Cô khẽ lắc đầu: 
- Không, em không phải là sinh viên. Em mới học hết lớp 5 thôi. Em đi làm rồi. Nhà em ở trên đỉnh núi Ké, xa lắm, ở đó chỉ có đá tai mèo lởm chởm mà thôi. Quê em nghèo lắm, chưa có ai học hết phổ thông thì sao vào đại học được. 
Cô gái nhìn tôi xa xăm. Câu chuyện sơ yếu lý lịch của cô khiến tôi xúc động. Tôi là thằng đàn ông đa cảm bởi những câu chuyện vu vơ. Nhưng đây lại là một câu chuyện thật một trăm phần trăm. Tôi cố đoán tuổi em mà không sao đoán nổi. Chắc ngoài 20 gì đó. Hỏi tuổi phụ nữ hơi bất nhã. Không hiểu sao cứ gặp phụ nữ là tôi lại rất muốn biết họ bao nhiêu tuổi. Đó là một tật xấu vô cùng. 
Em kể rằng, em sinh ra và lớn lên ở cao nguyên đá. Chà, thật tuyệt. Tôi đã có dịp lên cao nguyên đá nhân một chuyến lên cột cờ Lũng Cú. Có lẽ không có nơi nào khổ bằng người dân sống trên cao nguyên đá vùng cực Bắc Tổ quốc. Hình ảnh những cô gái dân tộc Mông đi đâu cũng đeo gùi đằng sau trông thật thương cảm. Bao nhiêu thế hệ rồi tôi không biết, chỉ biết rằng những đôi vai gầy và trắng kia sẽ gắn bó với cái gùi như một cái ách trong cuộc đời, cái ách ở cao nguyên đá. 
Cô gái thiu thiu ngủ trong du dương những bản nhạc vàng. Bài hát "Rừng lá thấp", tôi rất thích bài hát này. Cô ngả đầu vào vai tôi. Thế là tôi gánh thêm một trách nhiệm phải giữ thật êm ái cho nàng ngủ. Tôi mong con đường dài thêm, thậm chí dài vô tận để bông hoa rừng tựa mãi vào tôi. Chỉ cần ngoảnh mặt lại một góc chừng 20 độ là môi tôi có thể chạm vào môi nàng. Nàng gần đến nỗi khiến tôi ngửi thấy mùi đàn bà từ người nàng phả vào mũi tôi. Một phản xạ tự nhiên của đàn ông trỗi dậy trong tôi, đó là thèm muốn chiếm đoạt. Có nên xấu hổ với phản xạ vô điều kiện này không nhỉ, tôi bất chợt tự hỏi thầm mình như vậy. Và một giây sóng dậy, tôi lợi dụng xe nghiêng vào cua, cúi xuống hôn vào môi nàng. Không có sự phản ứng nào hết, hình như nàng còn hơi cười như thể trong mơ. 
Nàng là ai thế nhỉ? Bông hoa rừng đẹp hoang sơ sao bỗng nhiên bí hiểm thế này. Tôi thấy nàng gần gũi lắm, gần như chính nàng là người yêu của tôi. Trong tôi bùng lên một ngọn lửa vô hình, và nàng liệu có là bó rơm khô sẵn sàng cháy thành ngọn đuốc? Nàng sang trọng hay thấp hèn, bên trong những nét xinh đẹp là cái gì cơ chứ. Đã có ánh mắt trong xe nhìn trộm chúng tôi, những ánh mắt tò mò hay ghen tị, những ánh mắt hiếu kỳ hay cảnh báo một điều gì chăng, không cần biết. Trong tôi chỉ nung nấu một điều - đó là chinh phục được nàng mà thôi. Phải chăng đây là sự sắp đặt nhân duyên từ kiếp trước? Gần đây người ta hay nói tới tiền kiếp, liệu tôi với nàng có dính dáng gì tới tiền kiếp hay không? 
Xe dừng nghỉ ở một thị trấn nhỏ cho hành khách ăn trưa và xả hơi sau một chặng đường dài. Một thị trấn thuộc miền trung du. Tôi đập nhẹ tay lên vai đánh thức nàng. Vẻ mặt ngái ngủ mơ mơ màng màng khiến nàng càng đẹp hơn. Một cơ hội nữa tới, tôi có lý do mời nàng ăn trưa, và lời mời được chấp nhận. Sự cô đơn giữa những con người xa lạ đã tạo ra bao nhiêu những mối tình trong những chuyến đi xa như thế này? Đã có ai thống kê trên thế giới mỗi năm có bao nhiêu người đã yêu nhau trên xe khách? Ý nghĩ của tôi thật buồi cười, hình như tôi đã yêu nàng thật rồi. Lý do yêu ư, nhạt thếch. Có lẽ mong một sự chiếm đoạt hơn là yêu, đàn ông là vậy. Đàn bà liệu có ý nghĩ ấy không nhỉ? Chắc là cũng như nhau cả thôi. 
Tôi đỡ nàng xuống xe. Chú lơ xe nói nhỏ vào tai tôi: "Anh may nhất xe đấy". Tôi đón nhận thông tin này một cách hờ hững. Tôi với nàng vẫn đang là hai người xa lạ. 
Tôi đưa nàng đi dọc đường phố huyện. Rất nhiều quán cơm bình dân với biển đề "gà chạy bộ một trăm phần trăm". Hay thật, những năm gần đây người ta thường dùng cụm từ "một trăm phần trăm" để khẳng định thương hiệu. Tôi hỏi nàng: 
- Em muốn ăn gì? Gà chạy bộ một trăm phần trăm được không? 
Nàng gật đầu: 
- Thế nào cũng được, đàn bà chúng em ăn đơn giản lắm. Anh cho em ăn theo nhé. Tôi chỉ chờ có thế, gọi hai đĩa cơm gà. Bây giờ, cái sự được ngồi bên nàng là quan trọng nhất, ăn cái gì cũng ngon. Nhân gian từng nói, quan trọng là ngồi ăn với ai chứ không phải là ăn cái gì, đúng quá. Chúng tôi ngồi đối diện nhau, thật gần. Bất ngờ nàng hỏi thẳng:
- Anh có vợ chưa?
- Chưa. Đang đi tìm…. 
Nàng lơ đãng tiếp nhận thông tin này. Hình như biết tôi chưa vợ nàng cũng chẳng có biểu hiện vui hơn. 
Tôi hỏi nàng: 
- Em làm nghề gì? 
Nàng cầm đôi đũa gẩy gót vào đĩa dưa muối một cách sành điệu: 
- Em làm 2 nghề, một nghề đàng hoàng và một nghề khốn nạn. 
Tôi đứng tim khi nghe em nói. Hóa ra em không phải là cô bé còn trong trắng vô tư! Bao giờ đứng trước đàn bà tôi cũng bị nhầm, không nhầm kiểu này thì nhầm kiểu khác. Khốn nạn thật, đọc bao nhiêu sách nói về đàn bà mà tôi chẳng bao giờ nhận xét về đàn bà đúng cả. Mà nghề "khốn nạn" là nghề gì? Sao tôi ngu quá thế, lần nào đứng trước đàn bà tôi cũng ngu si đần độn vô cùng. 
Nàng gắp cho tôi miếng thịt gà nướng thơm. Nàng bảo: 
- Thịt gà nướng ăn kèm với dưa chua là ngon nhất trên đời. Nhà em ở cao nguyên đá, chỉ đến tết mới được ăn như thế. Nhà siêu nghèo mà anh. 
Tôi ngoan ngoãn ăn mà không biết phải nói gì với nàng. Tôi nhìn miệng nàng nhai cơm, duyên dáng và sang trọng, tất nhiên có pha một chút giả dối điêu toa. Bây giờ thì tôi đã trở thành một kẻ ngây ngô trước mắt nàng. Đời vẫn thế, bao đời nay rồi, đàn ông thường là kẻ ngốc nghếch trong mắt đàn bà, ngốc nghếch ngay trong sự khôn ngoan. 
- Anh đã hiểu chưa, hiểu cái nghề khốn nạn mà em đang làm chưa? Một chàng trai như anh mà không hiểu ra ư, đó là nghề làm gái. Thân phận đàn bà có nhiều cái nhục nhã, tuy nhiên nhục nhất là nghề bán dâm. Không còn gì tủi nhục hơn. 
Tôi nghẹn miếng cơm trong cổ, nuối không trôi. Giời đất ơi, người con gái tựa đầu vào vai tôi ngủ suốt mấy tiếng đồng hồ trên xe, người mà tôi cố tình hôn trộm này lại là gái điếm ư? Tôi húp một muỗng canh cho trôi miếng cơm trong họng. Tôi không tin đó là sự thật, chắc nàng đang đùa tôi. Tôi hỏi: 
- Em tên là gì? 
Nàng bảo: 
- Cái tên có ý nghĩa gì đâu. Chỉ có tác dụng phân biệt người này với người kia. Giá như đời không ai có tên thì hay biết mấy... 
Nàng trả tiền cơm cho tôi, động tác lấy tiền từ ví ra rất điệu nghệ và nhanh khiến tôi không kịp phản ứng. Nàng kể khúc nhôi thời gian đi làm gái cho tôi nghe như một cách sám hối. Cách đây 4 năm, lúc đó mới 17 tuổi, nàng đã phải bán trinh tiết lấy 1 chỉ vàng chữa bệnh cho mẹ. Đó là cái đêm kinh hoàng nhất trong đời nàng. Gã đàn ông sở hữu nàng một đêm là một doanh nhân thành đạt. Chính bạn thân của nàng đã môi giới việc này. Nàng bảo, không bao giờ nàng ân hận việc bán trinh tiết cứu bậc sinh thành. Chính đồng tiền đã kéo nàng vào nghề làm gái, nàng còn gì đâu để mất. Không có tiền thì chết. Đó là câu chuyện nàng kể, không biết trong đó có bao nhiêu phần trăm sự thật. Tuy không tin hết những điều nàng nói, nhưng tôi vẫn thấy thương nàng. 
Xe chuẩn bị lăn bánh, còn gần 100 cây số nữa là tới thành phố. Nàng lại ngả vào vai tôi, mấy sợi tóc bồng bềnh mơn trớn trên má tôi, một cảm giác làm tình. Nàng không ngủ nữa mà khóc. Tiếng nấc trong lòng, mi mắt ướt nỗi đau. Nàng bảo tôi: "Em thèm được yêu quá. Yêu là thế nào hả anh. Liệu có ai yêu em không nhỉ. Giá như em được làm vợ đích thực một đêm thôi. Anh có biết làm chồng là thế nào không?". Nàng ngước lên nhìn tôi, ánh mắt như một câu hỏi lớn. Tôi nhìn đáp lại, hai ánh mắt gặp nhau, không chớp. Tôi hiểu nàng đang mời mọc tôi làm chồng, dù chỉ một đêm thôi. Điều đó thật hạnh phúc. 
Tôi theo ánh mắt nàng về một khu nhà trọ khá khang trang. Nàng thuê một phòng rộng rãi có công trình khép kín. Những vật dụng bày biện ngăn nắp, sạch sẽ như trong khách sạn. Nàng là kẻ có tiền. 
Một phụ nữ trung niên xuất hiện. Nàng chỉ tay vào tôi: "Dạ, xin giới thiệu với cô đây là chồng cháu". Bà chủ nhà nghỉ gật đầu, mỉm cười với tôi: "Chào cậu". Gọn ghẽ thế thôi.
Nàng bảo tôi ngồi đợi để nàng đi chợ mua đồ ăn. Một cảm giác hạnh phúc dâng trào trong tôi, thật khó tả. Tôi không thể phân định được tình cảm của mình, cứ như kẻ đứng giữa ngã ba đường vô định. Một tiếng, hai tiếng, ba tiếng trôi qua mà nàng vẫn không về. Ruột tôi bắt đầu có lửa, chuyện gì đang xảy ra thế này?
Bà chủ nhà cầm tờ giấy ghi nợ chìa vào mặt tôi: "Này, cậu hãy trả tiền thuê nhà một năm cho vợ đi chứ!". 
Thì ra, nàng thì đã biến mất từ lúc xách giỏ đi chợ rồi!
-Đọc ở một nơi nào đó-

Thứ Ba, 13 tháng 3, 2012

Tình yêu là gì?


Truyện rất ngắn

Tôi gặp một cậu bé và hỏi: "Tình yêu là gì ?"

Cậu bé nói: "Là khi chú chó cưng liếm mặt mình..."

Tôi bật cười thành tiếng, nhưng cậu bé nói tiếp:

"... mặc dù ta bỏ nó cô đơn cả ngày"

-Đọc ở một nơi nào đó-

Mẹ chỉ toàn nói dối thôi


Truyện rất ngắn


Khi trên tay mẹ có cái đùi gà, mẹ sẽ nói"
“Con ăn đi, mẹ không đói ...”

Khi trước mặt mẹ có đủ sơn hào hải vị, mẹ sẽ nói" “Con ăn đi, mẹ không thích ăn...”

Khi trời oi bức, trên tay bạn chỉ có một ly nước, mẹ sẽ nói " “Mẹ không khát, con uống đi ...

Khi đêm đã vào khuya mẹ vẫn còn ngồi khâu áo, bạn đến hỏi han, người sẽ nói" “Khuya rồi, con đi ngủ đi, mẹ không mệt đâu ...”

Khi bạn đã thành đạt, mua quà về biếu mẹ, mẹ sẽ nói “Thôi mua chi cho lắm, mẹ không thích đâu” .

Ngày xưa toàn là mẹ cho bạn tiền ăn vặt, đến khi bạn gửi tiền mẹ xài, mẹ sẽ nói" “Mẹ có tiền rồi, con cứ cất mà dùng ...”

Khi bạn rước mẹ đến một chỗ ở mới tốt hơn, mẹ sẽ nói" “Thôi, mẹ quen nhà cũ rồi...”

Khi mẹ nằm trên giường bệnh, ai cũng hỏi mẹ có đau lắm không? mẹ sẽ nói" “Con đừng lo, mẹ không đau chút nào cả !

Người mẹ của chúng ta đấy, lúc nào trong câu nói dối của người cũng ẩn giấu sự hiền từ quá đỗi yêu thương..

-Đọc ở một nơi nào đó-

Thứ Ba, 6 tháng 3, 2012

Nước mắm

Truyện ngắn

Hạ rất xinh. Từ nhỏ, ai thấy nó cũng hỏi sao nó khác mẹ thế. Mẹ nó vừa đen, vừa già, mũi thì tẹt. Ba mẹ nó lấy nhau khá muộn, sinh được đứa con gái kháu khỉnh, khỏe mạnh là niềm hạnh phúc vô bờ.
Nhưng ba nó cũng chỉ hưởng hạnh phúc vỏn vẹn mấy năm. Nó không giống ba, mà giờ có ai hỏi mặt ba, Hạ cũng chỉ biết nhìn lên tấm ảnh trên bàn thờ chứ không nhớ. Ba nó mất vì xơ gan khi nó 6 tuổi.
Mẹ bán nước mắm ở chợ huyện để nuôi Hạ ăn học. Mỗi lần cô giáo bảo ghi tên ba mẹ, nghề nghiệp là nó ghét nhất. Nó ghi vẻn vẹn hai dòng:
Ba bệnh nặng đã mất.
Mẹ Nguyễn Thị Hiền: buôn bán.
Thằng Tí ngồi bên cự cãi: “Mày viết sai” rồi đứng dậy trước lớp:
“Thưa cô mẹ nó làm mắm và bán nước mắm thì phải ghi thế chứ ạ?”
Cả lớp cười rộ lên. Dù cô giáo nhắc nhở và nói thế nào, chúng nó vẫn cười khúc khích. Có đứa còn vờ lấy tay che mũi: “Hèn gì tao nghe nó có mùi mắm thúi tụi bây ơi”. Năm đó, Hạ mười tuổi.
Nó dần dần tách xa khỏi đám bạn trong lớp và không chơi với ai. Mỗi lúc rảnh rỗi, thay vì có thể giúp mẹ công việc và lên chợ phụ bán hàng mắm, nó đều viện cớ làm bài tập.
Họp phụ huynh Hạ cũng không bao giờ thông báo về cho mẹ. Cô giáo hỏi lý do, nó chỉ lí nhí nói xin lỗi rồi đứng im lặng. Thằng Tí khều nó:
“Mày cứ nói là mẹ mày mắc bán mắm đi” rồi quay sang mấy đứa kia cười chế nhạo. Nó chỉ ước đấm cho Thằng Tí mấy cái rồi chạy về nhà.
Cô giáo đã gặp mẹ Hạ nói chuyện. Đêm đó, mẹ nó khóc. Hạ chỉ thấy mẹ khóc lúc đám tang bà ngoại và đám tang ba nó. Mẹ nó xin lỗi, rằng vì mẹ mà nó phải xấu hổ với bạn bè. Nhìn những giọt nước mắt chảy ra từ khóe mắt héo hon của mẹ, nó chợt nhận ra mẹ đã hao gầy biết bao nhiêu.
Những hình ảnh xô đẩy nhau chạy về trong tâm thức. Hạ nhớ, mỗi sáng mẹ thức dậy từ sớm, chuẩn bị đồ ăn cho nó rồi dắt chiếc xe đạp, đạp ra phía biển cách nhà hơn 10 cây số, chọn mua mớ cá tươi nhất. Cả ngày hôm đó lại cặm cụi suốt buổi với mớ cá tanh rì. Đêm đến, chốc chốc lại trở dậy để kiểm tra xem có con gì vào phá không, kiểm tra các hũ đậy có vừa không…
Muối được mẻ mắm ngon không phải dễ, phải kỳ công và tỉ mẫn. Mẹ khéo tay nên ai cũng muốn mua nước mắm do mẹ nó làm, vừa ngon vừa chất lượng. Hơn nữa lại chắt chiu trong đó từng giọt mồ hôi và biển nguồn yêu thương của mẹ dành cho nó. Vì vậy, mỗi lần nếm vị nước mắm đó, nó nhận ra đơn giản không chỉ là mùi vị đặc trưng của biển trời hay của mùi nguyên thủy của cá, mà là mùi vất vả và thương yêu.
Hạ cầm bàn tay chai sạn vì làm cá đến mất cảm giác của mẹ, rồi ôm lấy bờ vai của người: “Ngày mai, mẹ gọi con dậy với nhé! Con muốn ra chợ cùng mẹ”. Mẹ mỉm cười, nụ cười hạnh phúc y như nụ cười lần đầu tiên trông thấy thiên thần nhỏ của mẹ chào đời.


-Đọc ở một nơi nào đó-

Cục tẩy và bút chì

Truyện rất ngắn

Bút chì: Con xin lỗi !

Cục tẩy: Vì cái gì thế, con yêu ? Con có làm gì có lỗi đâu !

Bút chì: Con xin lỗi vì mẹ phải chịu đau đớn vì con. Bất cứ khi nào, con phạm phải sai lầm, mẹ lại luôn ở đó sửa sai giúp con. Nhưng khi mẹ làm điều đó, mẹ lại làm hại chính mình. Cứ mỗi lần như thế, mẹ lại ngày càng bé hơn.

Cục tẩy: Điều đó đúng ! Nhưng bé ơi, mẹ chẳng phiền đâu. Con nhìn xem, mẹ được tạo ra vốn để làm việc này mà. Mẹ được tạo ra để giúp con bất cứ khi nào con phạm phải sai lầm. Mặc dù mẹ biết ngày nào đó mẹ sẽ mất đi và con sẽ thay thế mẹ bằng người khác nhưng mẹ vẫn rất vui với những gì mẹ đã làm. Vậy nên, đừng lo lắng nữa nhé ! Mẹ ghét nhìn thấy con buồn lắm !
Tôi đã tìm thấy mẫu đối thoại nhiều xúc cảm này giữa cây Bút chì và Cục tẩy. Cha mẹ cũng giống như Cục tẩy này vậy và ngược lại con cái là những cây Bút chì. Họ luôn có mặt vì bọn trẻ và sửa chữa những sai lầm của chúng. Thỉnh thoảng vì điều đó, họ phải chịu đau đớn, họ trở nên "bé" đi Và dù cho bọn trẻ rồi sẽ tìm thấy một ai đó khác thay thế (vợ – chồng) cha mẹ vẫn rất hạnh phúc vì những gì họ đã làm cho con cái mình, hiển nhiên rất ghét phải nhìn thấy những báu vật quý giá của họ lo lắng hay phiền muộn. Suốt cuộc đời mình, tôi đã luông là cây bút chì. Và điều đó làm tôi đau đớn khi nhìn thấy những cục tẩy – ba mẹ mình – lại bé đi mỗi ngày. Vì tôi biết sẽ một ngày nào đó, còn lại với tôi chỉ là những vụn tẩy và những kỷ niệm tôi có với họ.

Ước gì Bút Chì luôn viết đúng để Cục Tẩy được kéo dài cuộc sống !


-Đọc ở một nơi nào đó-

Thứ Tư, 22 tháng 2, 2012

Và tôi chợt hiểu: Tôi tin Chúa

Truyện ngắn

Thời niên thiếu

Xuân 1975 là lúc thay đổi lớn lao cho gia đình tôi.
Bố tôi với cấp bậc trung tá thuộc Bộ Tổng Tham Mưu đi cải tạo không hẹn ngày về. Mẹ tôi, đã quen lên xe xuống ngựa, giờ thì một mình nuôi tám đứa con tuổi từ sáu đến mười tám.
Hai anh lớn phải bỏ học lớp cuối cấp đi làm công nhân bốc vác. Cuộc đời hai anh không vào tù ra khám thì cũng vào đồng ra ruộng, nên tôi cũng không gần gũi hai anh lắm.
Còn hai chị tôi thì bỏ học nửa chừng vì mắc cỡ bị chứng ghẻ ngứa đầy mình. Cả nhà tôi đều bị. Một đứa bị, lây liền sang đứa khác. Đứa này vừa lành, chưa kịp mừng, thì đứa vừa bị lại lây sang đứa lành. Lành rồi lại bị, bị rồi lại lành. Nhà nhà bị, xóm xóm bị. Cả thành phố bị. Nên ngườii ta gọi đùa là ‘ghẻ bộ đội.’ Người ta nói rằng ghẻ này lan tràn vì tình trạng thiếu vệ sinh nguồn nước. Khi ấy tôi mười hai tuổi nên chẳng để ý do đâu mà cả nhà tôi lẫn hàng xóm đều bị ghẻ, chỉ biết ghẻ thì ghẻ mình vẫn cứ chơi đánh thẻ!
Thế là tôi cứ lớn.
Nhưng tôi không được gần bố vì các hàng rào tù ngăn cách. Tôi cũng không được gần mẹ vì mẹ tần tảo bán buôn suốt ngày. Có khi mẹ đi cả tháng trời mới về theo những chuyến hàng xa từ Sài-gòn ra tận Nha-trang, nơi ngoại ở. Tôi cũng không gần hai anh như đã nói. Còn hai chị thì cứ la tôi suốt ngày để dạy dỗ em thế cha, thế mẹ, thế anh. Đứa em gái chẳng thèm chơi với tôi đâu. Còn hai đứa em trai cũng có bạn nhóc tì riêng rồi. Thế là tôi cứ lớn với trái banh nhựa và quen dần cơm trộn củ sắn hoặc bo bo vàng nghệ. Ấy thế mà chả bao giờ tôi phải bệnh vào nhà thương cả! Cám ơn Trời!

Rồi kinh tế mỗi ngày một khó khăn hơn. Một mình mẹ không lo nổi cho tám đứa con, nhất là phải thăm nuôi hai đứa con trai lớn nhất 17 và 18 tuổi ở tù cải tạo vì có tên trong sổ đen cách mạng. Chưa kể phải lo thêm thăm nuôi chồng tận ngoài bắc tỉnh Vĩnh Phú. Hai chị lớn, chỉ hơn tôi hai và ba tuổi, cũng đã nghỉ học và bắt đầu phụ mẹ kiếm chút đỉnh tiền thêm. Thế mà vẫn chẳng đủ vào đâu. Vẫn cứ cạp khoai nuốt sắn. Vẫn ngậm hoài ‘bánh xe lịch sử’ (bột mì hấp hơi). Để có thêm chút cháo, dù thương con, mẹ phải đánh thức tôi dậy sớm lúc 4 giờ sáng để phụ mẹ đạp xe đi lấy tàu hủ về bán kip phiên chợ sớm mai trước giờ tôi đi học.

Thế là tôi cứ lớn.

Tôi cứ lớn như cây tre đầu ngõ mà mẹ kể rằng khi tôi vừa sanh ra thì người ta cũng bắt đầu trồng nó. Mẹ dặn kĩ vậy để tôi và mấy đứa em biết nhìn cây tre ấy làm điểm mốc vô nhà khỏỉ sợ lạc. Có điều khác nhau giữa tre với tôi là tre cứ lột vỏ xanh tươi, còn tôi cứ mặc quần vá đít hai mảnh bự dù đã vào lớp 10. Thế mà không mắc cỡ mới lạ! Chắc tôi cứ bận chuyện chơi đá banh, đi học, đi bán hàng rong phụ mẹ, đi thăm nuôi bố và hai anh, đi thăm bệnh mấy đứa em, đi xếp hàng mua gạo, và nhiều chuyện linh tinh cần đến con trai như vậy, nên chẳng màng gì đến quần thủng đít!

Và cứ thế mà tôi lớn.

Lớn trong thiếu thốn vật chất lẫn tinh thần của đứa con có cha mà như mồ côi; có mẹ mà mấy khi được thấy mặt; có hai anh đầu đàn mà như thuyền không lái; có hai chị mà cứ mặc quần thủng đít! Có lẽ tôi lớn lên trong hoàn cảnh như vậy nên thường hay suy nghĩ về cuộc đời mà không biết phải hỏi ai. Nhất là lần thi đại học đầu tiên tôi bị rớt vì không phải là học sinh xuất sắc đủ để vựơt qua đựơc hàng rào 'thi lý lịch.' Một năm trời chờ đợi kỳ thi tới khiến tôi suy nghĩ rất nhiều về cuộc đời, cố tìm cho mình một nhân sinh quan, vũ trụ quan, với hy vọng tâm hồn sẽ xin đựơc hai chữ bình an.

Tuổi Thành Niên

Rồi tôi cũng vào được đại học. Mà không hẳn vậy, tôi thi đậu cao đẳng sư phạm thì đúng hơn vì tôi lý lịch thứ 12 lận, chỉ hơn lý lịch bố tôi một điểm, thứ 13, là lý lịch những sĩ quan chế độ cộng hoà Việt Nam. Trong môi trường sinh viên mới này có ba biến cố lớn cho đời tôi.

Ngày tựu trường đầu tiên có cả mấy trăm sinh viên khoa sư phạm khóa bảy ngoại ngữ Anh và Nga đứng xếp hàng chờ đọc tên xếp lớp. Đa số là nữ sinh viên, khoa ngoại ngữ mà! Vậy mà tôi chỉ thấy một cô có cái gì hay hay, dễ thương, chắc là đẹp, thấy thích liền, và lòng thầm mong sao cho mình được xếp chung lớp với cô ấy. Trời không phụ!

Thế là tôi có cả trăm cơ hội làm quen với cô bạn cùng lớp, Ánh Hòa. (Tên giả trong câu chuyện này). Cả nhà cô đều sùng đạo Phật. Hai chị tu xuất gia, một chị và mẹ cô tu tại gia. Nhà Ánh Hòa như một ngôi chùa, đầy những tựơng và nhang đèn. Không khí Phật giáo và sinh hoạt của các Phật tử trở thành quen thuộc với tôi, vì hầu như tuần nào tôi cũng ghé chơi nhà Ánh Hoà ít nhất ba buổi, lấy lý do trau dồi sinh ngữ!

Biến cố thứ hai, cùng thời gian này, tôi gặp anh bạn lớp kế bên cùng ngành Anh Văn, anh Hàm. Anh Hàm thấy tôi lúc nào cũng trầm ngâm suy nghĩ, ít nói, ít cười, chỉ mê bóng chuyền và đá banh, nên anh làm quen với tôi (theo như lời anh kể lại sau này). Anh Hàm hơn tôi vài tuổi nên tôi thường nói chuyện triết lý với anh. Anh biết tôi quen nhiều Phật tử nên anh giới thiệu tôi với anh Đăng, một tay thiền nổi tiếng.

Bây giờ nhớ lại anh Đăng, tôi thấy rõ mồn một hình ảnh anh như mới hôm qua vậy. Đầu trọc như nhà sư, nhưng quần áo thì không phải sư. Nói năng hay như thuyết pháp vậy khiến tôi nghe anh nói mãi không chán. Khi anh ngồi thiền, trông thật thiêng liêng và dũng mãnh. Anh nhiều lần dạy thìền cho tôi. Thế là tôi lại có thêm cơ duyên nữa bước chân vào thế giới Phật giáo qua thiền định với hy vọng tìm giải thoát như lời Phật dạy.
Thời gian hai năm sinh viên, ai muốn tìm tôi chỉ cần đến ba chỗ: Sân banh trường cao đẳng sư phạm số 6 An Dương Vương; nhà Ánh Hoà là nơi tôi nghe thuyết pháp với tư cách 'trau dồi sinh ngữ;' và nhà anh Đăng là thần tượng thiền của tôi. Ngoài ra, mỗi Chủ Nhật, tôi cũng thường lãng vãng viện Phật Học đường Võ Duy Nghi bên kia cầu Phú Nhuận. Nơi đây tôi gặp nhiều hòa thượng và thượng toạ. Tôi có dịp mượn kinh kệ và nghe các thầy thuyết pháp. Phải nói thời kì này tôi như thái tử Tất Đạt Đa băn khoăn với ý nghĩa cuộc đời và mong tìm chân lý giải thoát. Chỉ khác một điều, Tất Đạt Đa thì giàu, tôi thì nghèo:

'Này các Tỳ kheo, ta được nuôi dưỡng tế nhị, quá mức tế nhị; các hồ nước được xây lên, một hồ trồng hoa sen xanh, một hồ sen đỏ và một hồ sen trắng . . . Đêm và ngày, lọng trắng được che trên đầu ta, để tránh xúc chạm lạnh, nóng, bụi, cỏ, sương. Này các Tỳ kheo, ba lâu đài được xây dựng cho ta, một cái cho mùa đông, một cái cho mùa hạ và một cái cho mùa mưa . . . Các vũ công đàn hát múa xung quanh ta . . .' Nhưng những hạnh phúc trần gian không làm khuây khỏa đựơc những ưu tư của người có ý chí xuất trần.

Biến cố thứ ba xảy ra khi tôi gặp chị Tiêu Thị Lê. Trước khi kể thêm, phải kể đến biến cố lớn xảy ra trước đó trong gia đình tôi: Mẹ tin Chúa.

Thật là khó tin khi mẹ bảo tôi chở mẹ đi nhà thờ. Khó tin vì bố mẹ rất sùng đạo Phật. Tôi còn nhớ khẩu hiệu bố dán cửa tủ quần áo của bố, 'Là Phật-tử chúng ta hằng suy ngẫm lẽ vô thường, đêm đêm tinh tấn đối diện với sự chết đang rình rập trong từng hơi thở. Không nuối tiếc những gì đã qua. Không kháo khát những gì sắp đến.' Còn mẹ thì ngày nào cũng thắp nhang khấn khứa cả ba bàn thờ: Phật, thần tài, ông bà nội và ông ngoại tôi. Mẹ cũng hay mời sư về tụng kinh gõ mõ. Còn giỗ thì làm rùm beng dù không tiền bạc chi cả. Thậm chí mượn nợ để cúng xôi cúng gà và mời tùm lum người lại.

Thế mà vừa khi tin Chúa mẹ dẹp hết sạch không còn một hình tượng nào sót lại ngoại trừ hình ông bà được treo trên tường.

Tại sao mẹ tin Chúa tôi cũng không biết. Mẹ hay nói với tôi thái tử Tất-đạt-đa cũng chỉ là người rồi tu thành Phật chứ chẳng thể làm mưa, làm gió, làm sấm, làm sét. Chỉ có Chúa Trời mới làm nên vũ trụ mà thôi. Mẹ tin Chúa đơn sơ vậy đó. Hình như lúc ấy tôi 14 tuổi thì phải, nên cũng chẳng để ý gì đến Phật hay Chúa. Mẹ tin gì miễn mẹ vui là được. Mà tôi thấy mẹ vui thiệt. Cám ơn Chúa đã làm mẹ vui!

Một hôm, chị Lê đến thăm gia đình tôi. Chị ấy và mẹ tôi đi chung nhà thờ Cơ-đốc-phục-lâm ở ngã tư Phú Nhuận. Chị mời hai chị tôi và mấy đứa em học Kinh Thánh mỗi tối thứ Tư tại nhà tôi. Tôi bận rộn ở trường, dạy học thêm, rồi thiền định, rồi đủ thứ chuyện phải làm, nên chẳng biết gì cả về tối thứ Tư này. Hôm kia, tôi về nhà đúng lúc giờ học Kinh Thánh. Chị Lê mời tôi tham gia. Nể lời, tôi ngồi thử xem chị nói gì. Chưa nóng chỗ, tôi đã hỏi chị đủ chuyện về Đức Chúa Trời, về đau khổ, về chiến tranh, về việc bố ở tù. Chị Lê trả lời thế nào tôi không nhớ, và cũng không chịu. Chỉ nhớ tôi nói một câu: 'Trừ khi Chúa hiện ra trước mắt tôi bằng xương bằng thịt thì tôi mơí tin Chúa!' Rồi tôi đứng dậy bỏ đi nghĩ thầm không bao giờ gặp chị nữa.

Nhưng chị Lê không bỏ cuộc. Đến nhà tôi, chị luôn gửi lời thăm và để lại ít truyền đạo đơn giấy mỏng cho tôi. Tôi dùng những giấy này làm giấy toilet vì lúc ấy giấy mắc lắm! Nhưng cũng nhờ vậy mà tôi bắt đầu đọc biết Chúa trong restroom!

Và Chúa đã có cách bắt phục tôi. Hôm kia, một thanh niên tìm tôi. Áo phanh ngực. Tóc dài bồng bềnh. Đẹp trai. Câu đầu tiên anh nói là:- Mày có phải là Thắng không?- Phải! Còn ông tên gì?- Vy. Bà Lê có giới thiệu tao với mày. Bả bảo mày cũng đang có những thắc mắc về Thượng Đế như tao. Lập tức chúng tôi trờ thành bạn thân. Vy thường rủ tôi đến nhà chị Lê chơi. Từ đấy, tôi không những quen thân với chị Lê mà còn thân thiết cả gia đình chị nữa. Và cũng từ đấy, tôi dần quen thuộc không khí sinh hoạt Cơ-đốc-giáo. Tôi cũng thường ăn cơm nhà chị Lê, nói chuyện vui với gia đình chị, và thỉnh thoảng vì nể lời cũng đi nhà thờ nữa. Hôm kia tại nhà chị Lê, tôi thấy một cuốn sách rất dày, Thần Đạo Học, hình như tác giả John Olsen thì phải. Tôi mân mê cuốn sách, thầm nghĩ: 'Một ngày nào đó mình sẽ đọc hết cuốn này.' Quả thật, như một lời tiên tri, tôi đã đọc nó say mê không lâu sau đó. Tôi đang đứng lưỡng lự giữa hai ngưỡng cửa tôn giáo, nhìn lấp ló chân lý xa xa cho đến khi cánh cửa thứ ba mở ra: Cửa tù.

Thế giới khác

Xuân 1983 là lúc thay đổi lớn cho đời tôi. Mẹ tính chuyện cho một đứa vượt biên. Ứng cử viên tốt nhất không ai ngoài tôi vì bố và hai anh còn ở tù không biết ngày mai; mà cũng có thể sẽ không bao giờ có ngày mai ấy. Ai biết đựơc chuyện tù đày! Tôi thì không muốn đi vì tình cảm với Ánh Hòa dần sâu đậm dù chưa bao giờ ngõ một lời yêu. Để lên bàn cân thì tình cảm gia đình thật nặng hơn tình cảm cá nhân. Tôi nhớ hoài lời mẹ: 'Bố con thì ở tù tận ngoài bắc không biết sống chết ra sao. Hai anh con thì học tập lao động không biết ngày về. Hai chị thì yếu đuối. Còn ba đứa em con nó dại lắm không biết chi cả. Con mà không đi chuyến này thì không có cơ hội nữa. Nhà mình phải có một đứa đi Mỹ mới cứu thoát được cả gia đình.'

Thế là đi! Từ Sài Gòn xuống Cà Mau chia làm bốn chuyến xe đò để khỏi bị lộ. Thế mà vẫn bị! Trờ về Sài Gòn, tưởng yên thân rồi, lại bị bắt ở Gò Vấp. Tội vượt biên và tống tiền! Bị bỏ tù chờ ngày ra tòa. Thế là xong một giấc mơ đơn giản! Thế là tan vỡ một mối tình! Cửa tù mở ra đã đóng lại tất cả ngưỡng cửa cuộc đời của chàng trai trẻ 20 tuổi!

Tôi bị nhốt phòng tạm giam chờ lập hồ sơ điều tra. Phòng giam đầy ắp người. Trẻ có, già có. Thanh niên có, thiếu niên có. Cướp tàu lửa có. Cướp chợ có. Hiếp dâm có. Bán ma túy có. Làm pháo lậu có. Đào mả có. Giáo viên say xỉn chưởi xã hội chủ nghĩa có. Bài học đầu tiên do trưởng phòng tù (đại bàng) dạy là: Cởi hết quần áo ngoài rồi ngồi ngay thùng nước tiểu, thùng xăng nhựa 20 lít cắt nắp! Bài học thứ nhì: tối ngủ ngay thùng nước tiểu và sáng phải đi đổ nước tiểu. Bài học thứ ba: không đựơc nhắn tin ra ngoài và không đựơc nói chuyện với tù nhân phòng bên.

Và bài học cho riêng bản thân tôi: Tại sao con người tội lỗi lại có thể cứu đựơc chính mình? Và câu trả lời cho riêng tôi: Không thể đựơc.

Để trả lời cho những bài học của đại bàng cũng như của chính mình, tôi lao đầu vào thiền quán. Sáng thiền. Trưa thiền. Tối thiền. Vả lại, trong tù bíết làm gì bây giờ! Tất cả những gì tôi học được về thiền định, tất cả những gì tôi biết về kinh kệ đều được áp dụng ở đây. Một điều lạ là tôi không bao giờ nghĩ về Chúa Giê-su, về một thống khổ nhân, vì tôi không tin rằng có ai đó có thể gánh lấy nổi đau khổ của mình, chứ chưa nói đến của cả nhân loại. Phật thì gần nhưng mình chưa giác ngộ! Chúa thì xa như cửa tù và tự do!
Mỗi ngày trôi qua là mỗi ngày tôi chứng kiến bao nhiêu tội lỗi và tàn ác của con người. Cùng những gian ác này là những đau khổ tột cùng. Con người vừa đáng ghét vừa đáng thương. Con người vừa đối xử nhân nghĩa với người này lại tàn nhẫn vơí người kia. Thật khó hiểu con người vừa thiện vừa ác. Thiện ác lẫn lộn. Có ngày thì thiện nhiều, ác ít. Ngày hôm sau lại thiện ít, ác nhiều. Có ngày thì rõ ràng là 'nhân chi sơ tính bổn thiện.' Có ngày thì 'con báo không thay đổi đốm đựơc.'

Mỗi ngày tôi đều nghe tiếng rên la vì những trận đòn hạch tội từ các phòng tù quanh đó. Những chuyện trả thù rùng rợn. Những tiếng xì xầm hy vọng được phóng thích. Những tin vui thăm nuôi lắm thức ăn. Những chuyện xạo tiếu lâm rẻ tìền tục tỉu. Những chuyện anh hùng quân tử dám chia sẻ đồ ăn với mấy tù 'mồ côi.' Và tôi là một trong những 'anh hùng' dám chia đồ ăn cho họ. Một tuần gia đình chỉ được thăm nuôi một lần nên phải đem đủ thức ăn cho tù nhân đủ cả tuần. Nhưng đồ ăn một tuần của tôi chỉ hai ngày là hết sạch! Thế là lại quen với 'canh đại dương xanh' (tô nước lã với vài cọng rau muống). Thế là tôi được đặt ngồi ngang hàng với mấy tay anh chị đại bàng! Và nhờ không nằm sát bên thùng nước tiểu nữa nên ngoài giờ thiền ra, tôi và một anh bạn tù học khoa văn, bị buộc tội ăn cắp tài sản nhà trường, thường cùng ngâm câu 'Phật vẫn lặng như ngàn năm thuở trước, và Trời hay Thiên Chúa chỉ hư không!'

Nhờ bà con chạy chọt, những ngày tù oan của tôi cũng qua và mặt trời vẫn mọc sau ba mươi ngày tù!
Tìm Lại Người Xưa

Việc đầu tiên là tìm lại những thầy xưa nhờ giúp đỡ cho đi học tiếp. Cả ban lãnh đạo khoa ngoại ngữ họp lại và quyết định: Đuổi học! Lý do: 'Bố phản động tù cải tạo. Con phản động dám vượt biên.' Thời đó ai mà vượt biên là phản động chứ không phải là 'Việt kiều yêu nước' như thời nay đâu!Buồn!

Việc thứ hai là tìm lại bạn xưa. Người đầu tiên là Ánh Hòa. Khi tôi đến thăm thì Ánh Hoà không còn vui vẻ tiếp đón tôi như truớc nữa. Vài lần sau, chị Hai của Ánh Hòa tiếp tôi. Sau vài câu xã giao và chia buồn, chị Hai chúc 'Thắng xây dựng lại cuộc đời.' Tôi hiểu thế nghĩa là xin đừng đến đây nữa. Buồn hơn! Trước khi chia tay, mẹ Ánh Hoà rủ tôi tịnh thất. Tôi nhận lời. Hai bác cháu đi ngoằn nghòe nhiều hẻm khu chợ Bà Chiểu rồi gõ cửa ngôi đình trụ trì bởi Hồng Tâm Trúc Lâm Nương. Bà trông tướng mạo phương phi, da dẻ hồng hào. Bà nhìn tôi chăm chăm hỏi: - Đaọ gì? - Dạ không có đạo, nhưng con muốn tầm đạo. - Vậy về nhà mỗi ngày pha ba trái chanh với 100 gram đường mà uống. Không đựơc ăn gì trong một tuần. Sau đó trở laị đây. Tôi thực hiện y lời. Vì sợ gia đình không cho nhịn đói, tôi tịnh thất tại nhà chị Lê. (Gia đình chị Lê có nhờ tôi dạy học cho đứa em trai chị học lớp 10). Sau bảy ngày tịnh thất, tôi ốm xanh xao mà chân lý vẫn còn xa, xa lắm!Buồn hơn nữa!

Người thứ ba tôi tìm đến là sư phụ thiền của tôi, anh Đăng, và các vị hoà thượng và thượng tọa mà tôi hân hạnh biết ở Viện Phật Học. Tôi tìm lại những bậc thầy này với một câu hỏi: 'Bao giờ mình thành Phật?' Và nhận được một câu trả lời như nhau: 'Kiếp sau!' 'Ôi kiếp sau lận!' Tôi than thở.

Rồi tôi không ngừng đặt nhiều câu hỏi nữa.
- Thưa hoà thượng, Phật nói 'Thân người một khi mất đi vô lượng kiếp sau khó mà lấy lại đựơc. Vậy ngay kiếp này các ngươi phải thành Phật.' Vậy, hoà thượng năm nay đã 70 mươi tuổi rồi, con chỉ mới 20. Đến những 50 năm nữa con mới 70 và vẫn chưa thành Phật! Hoà thượng chờ kiếp sau, còn con phải chờ kiếp nào? Thế kiếp này mình thành Phật như lời Phật dạy không được sao?- Ngạo mạn!

- Nếu thái tử Tất Đạt Đa 49 ngày đêm tu thiền dưới gốc bồ để thành Phật, thì con phải 48 ngày đêm hoặc ít hơn chứ?- Ngạo mạn!

- Dạ con không dám ngạo mạn nhưng thái tử không biết đường đi nên mất 49 ngày đêm thành Phật, biết đường rồi Ngài chỉ con đi thì con phải đi nhanh hơn, hoặc bằng vậy, hoặc lâu hơn một chút thôi chứ!- Ngạo mạn!

- Dạ con không dám ngạo mạn, nhưng xin cho con hỏi thêm một câu nữa thôi. Hòa thượng chưa thành Phật đươc, vậy hòa thượng biết ai kiếp này đã thành Phật với đủ 80 vẻ đẹp và 32 tướng tốt như lời Phật dạy chưa? Xin chỉ con để con tìm tới thọ giáo. Xin hiểu cho lòng chân thành khao khát đạo của con.- Làm sao mà thành được! Phải ráng tu chờ kiếp sau.
Tuyệt vọng! Thôi thì: Kiếp sau xin chớ làm người Làm cây thông đứng giữa trời mà reo! (Cao Bá Quát)

Không đụơc thì cũng xin: Kiếp sau xin chớ làm người Làm đôi nhạn trắng tung trời mà bay! (Tản Đà)

Xin giúp tôi vì tôi không tin

Thời gian này tôi thường xuyên lui tới hơn nữa hai người bạn đã trở nên thân thiết, Vy và Lê. Vy là người Công Giáo gốc nhưng anh thường thắc mắc về Thiên Chúa. Anh có tin Thiên Chúa đấy nhưng anh chưa tìm được lời giải thích về thế giới qua lăng kính Thiên Chúa. Như hạt lúa giống đang trăn trở dưới lòng đất để vươn mình trổ bông trong mùa gặt sắp đến, nội tâm của Vy cũng đang chiến đấu với tư tưởng mà con rắn xưa gieo lòng anh. Dù sao đi nữa, qua Vy tôi cũng đã nghĩ nhiều về Thiên Chúa mà Vy nói rằng Ngài đã bị đóng đinh trên thập giá vì nhân loại.

Thông cảm với tôi hơn nữa chắc là Lê và cả gia đình chị. Gia đình Lê đã chứng kiến thế nào tôi đã tầm sư học đạo; đã vựơt biên và ở tù, vì chính Lê có đi thăm tù tôi. Gia đình Lê đã khuyên tôi đừng kiêng ăn tịnh thất bảy ngày; đã mời tôi đi nhà thờ; đã cố giải đáp băn khoăn của tôi về Đức Chúa Trời. Qua gia đình Lê, tôi thấy đựơc tình yêu mà Chúa dạy yêu người lân cận như mình không phải chỉ bằng lời nói nhưng cả bằng hành động tận hiến.

Thế rồi càng lúc tôi càng khổ sở hơn vì không thành Phật được cũng chẳng tin Chúa nổi. Tôi tìm vui trong triết học và say mê 'Câu Chuyện Dòng Sông,'2 'Xin Chọn Ngừơi Yêu Là Thượng Đế.'3 Lúc đó sách triết học và đạo học hiếm lắm, nên tôi mượn được cuốn nào là đọc ngấu nghiến như sợ mất đi cơ hội tìm chân lý. Tôi cũng gặp triết gia thi sĩ Bùi Giáng thường lang thang trước sân trường cao đẳng sư phạm; quần áo tả tơi; quanh người đeo đầy nồi niêu xoong chảo, tóc và râu thì dài bạc trắng không rửa không chải. Và bỗng nhiên tôi sợ hãi mình sẽ như ông!

Cho đến một hôm Lê kể cho tôi câu chuyện một người cha đem con trai mình lại xin Chúa Giê-su đuổi quỉ khỏi nó. Vì chính các môn đệ Chúa cũng không đuổi được quĩ dữ này nên người Cha nghi ngờ cả Chúa. Ông xin Chúa nếu có thể được hãy chữa lành cho con ông. Chúa đáp, 'Sao ông nói nếu có thể đựơc? Ai tin thì mọi việc đều đựơc cả!' (Sau này tôi mới biết nó là trong Mác 9:14-24.) Ông liền kêu lớn, 'Tôi tin, xin thầy giúp tôi có lòng tin.'

Không hiểu sao câu chuyện này cứ ám ảnh tôi và lời Chúa lẫn lời người cha cứ vang mãi trong trí tôi. Tôi cứ suy nghĩ chuyện này và quyết định bắt chước lời xin đó. Đó là lời cầu nguyện đầu tiên với Chúa trong đời tôi: 'Chúa ơi! Con muốn tin Chúa lắm mà tin không được! Nếu Chúa thật như lời mấy tín đồ nói, chị Lê nói, Kinh Thánh nói, và chính Chúa nói với người cha đó, xin hãy giúp con trong sự không tin của con.' Tôi không nhớ mình cầu nguyện bao nhiêu lần như vậy; nhưng chắc chắn là nhiều lần lắm. Bao lâu? Tôi không nhớ. Nhưng chắc chắn là khẩn thiết lắm. Khi nào? Hinh như cả ngày tôi cứ cầu nguyện như vậy đấy.

Và Chúa đã trả lời tôi.

Một đêm kia, hình như có ai đánh thức tôi dậy giữa đêm. Thường thì anh em tôi hay ngủ ngoài phòng khách, mỗi đứa cứ tự động trải tấm chiếu, giăng cái mùng rách rồi ngủ thôi. Nhưng đêm đó tôi nhớ không có ai cả ngoại trừ tôi. Đêm thanh vắng không trăng không sao. Rồi giữa bầu trời đêm qua khung cửa sổ, tôi thấy rõ ràng một cây thập giá chiếu sáng lấp lánh, lấp lánh, lấp lánh. Tôi nghĩ mình nằm mơ nên bật ngồi dậy xem cho kĩ. Xem kĩ, xem kĩ nữa, xem thật kĩ. Ánh sáng biến mất chỉ còn trơ lại hai nhánh cây khô đan chéo hình thập tự. 'Đây chỉ là ảo tưởng. Rõ ràng hai nhánh cây mận nhà anh Bảy dưới lầu chứ chẳng có gì lạ cả,' tôi thầm nghĩ. Và tôi nằm xuống định ngủ tiếp. Nhưng lạ thay, cây thập giá lại hiện ra sáng lấp lánh nữa. Tôi ngồi dậy để chắc chắn mình không nằm mơ. Ánh sáng biến mất. Lại ảo tưởng thôi. Tôi nằm xuống lại. Ánh sáng xuất hiện! Không biết bao nhiêu lần tôi nằm xuống rồi ngồi dậy để thấy ánh sáng thập tự hiện ra rồi chợt biến; rồi chợt hiện; rồi chợt biến. Không biết thời gian dài bao lâu tôi vật lộn với ánh sáng thập tự lạ lùng như vậy. Thật không ngủ được với nó!

Bỗng nhiên tôi cảm thấy một sức mạnh bắt chặc lòng tôi. Sức mạnh lạ lùng, vừa mãnh liệt, vừa êm dịu, buộc tôi phải thú nhận tội lỗi mình trước danh Chúa Giêxu. Tôi la lên giữa đêm khuya (không biết có thành tiếng hay không?) 'Ôi tôi là một kẻ ô uế. Tôi tin Chúa. Xin Chúa tha tội cho con!' Rồi tôi vừa khóc dầm dề nước mắt, vừa đập đầu vào gối, và xưng tội mình. Bao lâu? Tôi không nhớ. Tôi cũng không nhớ mình mệt nhoài và trở lại giấc ngủ thế nào. Điều tôi nhớ rõ ràng nhất là sáng hôm sau mọi sự đều thay đổi.

Vừa thức dậy sau một giấc ngủ ngon và sâu, tôi thấy khỏe khoắng và bình an lạ lùng; bình an mà tôi tìm kiếm ròng rã đã lâu trong thiền định mà không bao giờ đạt đựơc.

Đó là cảm giác đầu tiên của buổi sớm mai ấy, tháng Ba năm 1983. Tôi nằm trên chiếc chiếu rách thưởng thức sự bình an lạ lùng ngon lành hơn dĩa cơm tấm mà tôi lúc nào cũng thèm được ăn hai dĩa mỗi sáng thức dậy, nhưng hiếm khi nào đựơc toại nguyện.

'Ủa! Chuyện gì vậy? Sao sáng nay mình thấy vui mừng và bình an quá vậy!' Tôi thầm nghĩ và chợt nhớ laị chuyện đêm qua. 'Chắc đây không phải chỗ mình ở. Không phải là cư xá Bắc Hải phường 15 quận 10 đâu. Bầu trời xanh quá, mây trắng quá, không khí thanh bình quá. Ủa mà mình đâu có mơ. Nhà mình đây mà?' Tôi chạy ùa ra ngoài nhà với nguyên bộ đồ ngủ, áo thun quần xà lỏn, để xem có phải đây thực là nơi mình đang ở hay không? Tôi xuống đường và đi từng nhà hàng xóm. Điểm từng điạ chỉ, 'Đây là nhà bác Đan, thích trồng hoa hồng. Đây là nhà anh Bảy có cây mận. Rõ ràng số nhà Đ1 và Đ2. Còn nhà mình Đ7 ở trên lầu Đ3 nhìn xéo xuống Đ4.' Không thể nào lầm đựơc.

Tôi nhận ra rằng thế giới không thay đổi, nhưng lòng tôi đã thay đổi. Hoa bây giờ mới thật là hoa, đẹp vô cùng với từng đường vân muôn sắc rực rỡ không ai tạo đựơc trừ Đấng Tạo Hoá! Những hạt sương lónh lánh còn đọng trên lá xanh tươi mà sao trước đây chẳng bao giờ mình thấy rung cảm nhỉ? Và tôi chợt hiểu: Tôi tin Chúa.
Cuộc Đời Mới

Sáng sớm hôm đó, trước khi mặt trời ló dạng sau hàng cây cuối xóm, tôi vui mừng đạp xe đến nhà anh Đăng. Tôi gõ cửa mà lòng hồi hộp vì vừa sợ làm phiền phá giấc ngủ nhà anh, vừa vui mừng muốn báo cho anh tin mừng rằng tôi đã đựơc giải thoát khỏi buồn lo và tâm hồn khấp khởi bình an vui vẻ lạ lùng lắm. (Sau này tôi mới hiểu Chúa hứa ban tín đồ sự bình an không phải như thế gian cho trong Giăng 14:27). Một cụ già mở cửa mời tôi vào và bảo chờ đó. Tôi chờ một chặp, lòng thầm nghĩ chắc anh sẽ ngạc nhiên lắm khi thấy tôi đến thăm sớm như vậy. Anh xuất hiện và nhìn tôi chằm chằm; cái nhìn khác hẳn mọi lần. Chợt mặt anh sầm lại và hỏi tôi: - Tin Chúa rồi phải không.- Dạ. Mà sao anh biết?- Chỉ có tội lỗi mới đẻ ra tội lỗi,' anh hằn học.

Rồi anh tiếp một tràng nguyền rủa Chúa mà tôi không nhớ hết ngoại trừ câu nói trên. Từ đó, tôi không gặp anh nữa. Sau này tôi mới hiểu ma quỉ nhìn ra Chúa Giê-su trước cả chúng ta. Xin Chúa thăm viếng anh Đăng như đã thăm viếng tôi. Dù gì đi nữa tôi vẫn nhớ anh lắm, người thầy và người bạn của tôi. Dù gì thì anh cũng có tâm đạo và tâm hồn hướng thiện. Xin Chúa mở mắt anh để thấy đựơc chỉ có Chúa Giê-su là chân thần, là Thựơng Đế. Ừ, mà biết đâu anh cũng đã tin Chúa như tôi rồi! Đã 29 năm trôi qua rồi còn gì!

Cũng ngày đó, tôi đến thăm gia đình chị Lê. Tôi thuật lại thế nào tôi đã tin Chúa. Cả nhà chị vui mừng lắm. Ba chị nói tôi đã vật lộn với Chúa giống như Gia-cốp vật lộn với Chúa Trời trên đường hồi hương và bị trẹo xương hông; rồi đựơc Chúa đổi tên và cả cuộc đời được thay đổi. Bác hỏi đùa tôi có đổi tên mới không? Tôi đùa lại, 'Chắc cháu đổi tên Toàn Thắng thành Toàn Thua! Nhờ thua Chúa nên mới thắng Satan.'

Từ đó, đi đâu tôi cũng nói về Tin Mừng của Chúa. Đâu tôi cũng cầu nguyện thầm trong lòng, 'Xin Chúa cho con gặp một người khao khát chân lý để con nói về tình yêu và chân lý của Chúa cho người này.' Tôi nói đựơc với rất nhiều người về Chúa, từ ngườI bình dân không quen biết, đến các giáo sư trung và đại học, đến các tu sĩ khất thực lang thang trên phố chợ, đến các tì kheo tại chùa, thậm chí cả người ăn xin nữa. Nhất là với các bạn học hồi trung học của tôi; đến nỗi có bạn gọi tôi là 'linh mục quốc doanh' hoặc 'cuồng tín.' Tuy vậy, trong số hàng chục bạn đó, có một người bạn thân tin Chúa và trở thành trưởng ban truyền giảng hội thánh Tin Lành Tô Hiến Thành, và cũng tốt nghiệp cử nhân thần học nữa. Cám ơn Chúa, những lời Chúa ban phát ra không trở về hư không nhưng kết quả lớn lao không ngờ!

Tôi nhớ đã gieo hàng trăm hạt giống đạo, gặt được ít nhất 100 trái, trong đó ít nhất năm trái trở thành rường cột hội thánh điạ phương. Chưa kể từ vùng đất màu mỡ này đã nảy sinh ra biết bao hạt giống tốt khác. Thật nước thiên đàng nhỏ bé Chúa gieo trong tôi đã lớn dần và vươn lên như cây cổ thụ tỏa bóng cho muôn người, đến nỗi đã 29 năm qua rồi mà chim chóc cứ tiếp tục vui mừng trú chân nơi đó.

Thời đó Lời Chúa hiếm lắm. Tôi mượn đựơc cuốn Kinh Thánh rách tả tơi mà mừng hơn bắt đựơc vàng. Thánh Linh soi sáng cho tôi hiểu được Lời Chúa mà trước đây rất xa lạ với tôi vì đọc chẳng hiểu gì cả. Nhưng lạ thay sau khi tin Chúa, tôi đọc Kinh Thánh say mê như ăn được thức ngon lạ qúy giá từ phương trời hạnh phúc nào mang lại. Tôi đọc Giăng và thấy được thần tính của Chúa và thích nhất là đại mạng lệnh 'Ta đã yêu các con thể nào, các con hãy yêu nhau thể ấy.' (Giăng 15:12). Tôi cũng say mê đọc Bài Giảng Trên Núi của Chúa về cách sống ở đời và đối nhân xử thế, như 'Nếu các con yêu kẻ yêu mình, thì có gì hơn kẻ có tội, vì họ cũng yêu kẻ yêu họ, nhưng Ta bảo các con hãy yêu kẻ thù mình.' Tôi thích Giăng vì ông nói nhiều về tình yêu của Chúa. Tôi cũng say mê đọc tiên tri I-sa, nhất là câu 'Hỡi những kẻ nào khác hãy đến suối nước mà uống.' (I-sa 55:1). Thế là tôi quyết định để dành tiền một tháng lương để mua chợ đen cuốn Kinh Thánh tôi còn giữ được đến hôm nay dù đã cũ mèm bong bìa lìa gáy!

Một việc tôi thích thú làm nữa là thăm các em mồ côi trong trại tế bần. Sao tự nhiên tôi thấy thương con người quá nhất là những kẻ bất hạnh, cô đơn, yếu thế! Tôi thấy rõ Chúa đặt tình yêu thương Chúa trong lòng mình và tôi cảm nhận được tình yêu của Chúa đối với tôi nên lòng nôn nóng và can đảm để làm những việc lành mà Chúa đã dành sẵn cho tôi để làm.

Tôi nhớ một chiều thứ Bảy, tôi mang nhiều bịch bánh đến thăm một trại mồ côi ở ngã ba Hàng Xanh. Các em xếp hàng sau bàn ngăn cách tôi với các em. Anh bảo vệ ngồi ngay góc bàn. Thế là tôi vừa phát bánh cho các em vừa thích thú nhìn ánh mắt vui mừng của các em khi nhận đựơc quà. Chắc hiếm khi các em mồ côi ở đây nhận đựơc quà, nhất là bánh kẹo thì các em thích lắm. Con nít mà! Hèn chi Chúa yêu trẻ em. Sau này tôi mới hiểu Chúa là 'Đấng giúp đỡ kẻ mồ côi.' (Thánh Thi 10:14).

Một điều lạ lùng nhất Chúa đã thay đổi lòng tôi là Chúa mở mắt tôi hiểu được con người là hình ảnh của Chúa và đựơc Chúa dựng nên bởi tình yêu. Tôi hiểu điều này khi một ngày kia, tôi thấy một đoàn bộ đội diễn hành ngang nhà, và lần đầu tiên trong đời tôi ngạc nhiên tự hỏi: 'Những con người này cũng là hình ảnh Thiên Chúa?' Rõ ràng lúc đó nhìn họ tôi thấy có một Đức Chúa Trơì đã dựng nên muôn loài. Và lần đầu tiên tôi hiểu taị sao Chúa dạy: 'Nếu các con yêu kẻ yêu mình thì có ơn chi, vì kẻ có tội cũng yêu kẻ yêu mình . . . Nhưng các con hãy yêu kẻ thù mình.' (Lu-ca 6:32, 35). Tôi chợt hiểu rằng Thựơng Đế không phải là Đấng chỉ thưởng hay phạt, nhưng Ngài quả thật là tình yêu!

Xin dâng Chúa cuộc đời con
Trước khi tin Chúa, tôi nghĩ tại sao người ta lại có thể tin Chúa nhỉ? Nhưng tin Chúa rồi, tôi ngạc nhiên tại sao ngươì ta lại không tin Chúa! Có quá nhiều bằng chứng về sự hiện hữu của Chúa và tình yêu của Ngài đối với nhân loại: thiên nhiên, khoa học, lương tâm, lí trí, đạo đức, Kinh Thánh, và chính Chúa Giê-xu đã chết và phục sinh. Rõ ràng có một quyền lực tăm tối ngăn cản con người đến vơí Chúa.

Trước kia tôi hãnh diện mình giữ đạo đức làm người. Tôi tự hào mình thiền định tu thân. Tôi ngầm hãnh diện trịch thượng về hành vi cao cả quân tử của mình. Nhưng rồi tất cả những giá trị đạo đức tôi tôn sùng bấy lâu giờ sụp đổ trước sự vinh quang chói sáng của Chúa Giêxu trên thập tự giá, là bằng chứng Thựơng Đế đã chết cho nhân loại vì yêu họ.

Tôi nhận thức rằng không một tôn giáo nào có sự tha tội, mà chỉ có đền và chuộc tội bằng cách làm lành lánh dữ, xây dựng công đức, bố thí lấy phướcc; tưởng đợi kiếp sau đựơc giải nghiệp cải số. Tôi ý thức rằng chính sự kiêu ngạo ngấm ngầm trong lòng rằng mình có thể tự giải thoát được mình nhờ những phương pháp tu hành đã ngăn cản tôi đến với Chúa; như một người đang chết đuối mà vẫn không chịu bám phao cứu rỗi, chỉ lo tập bơi tập lội.

Điều cuối cùng tôi nhận ra là Chúa là tình yêu. Và vì yêu nên Chúa đã chọn kẻ nào được cứu. Thật khó chịu khi phải tin như vậy, nhưng nhìn lại những gì đã xảy ra cho tôi và cho người khác, thì phải tin rằng Chúa đã tiền định tôi. Và chính vì tôi đã được Chúa tiền định ở vớí Ngài, thì có gì mà tôi phải sợ nữa chứ! Có gì mà phải lo! Có gì mà phải thù phải oán! Có gì mà phải đau khổ! Có gì mà phải bất an! Có gì mà phải ngã lòng lo sợ mất đi sự bảo đảm cứu chuộc! Chúa đã tiền định tôi rồi mà. Tôi há chẳng nên vui mừng sao? Yêu thương mọi ngưòi hơn sao? Tin chắc vào tình yêu và quyền năng của Chúa hơn sao? Tôi há chẳng nên sống vui mừng mỗi ngày và đem tình yêu của Chúa đến cho người lân cận tôi sao? Vì 'Ví bằng Cha, là Đấng sai Ta, không kéo đến, thì chẳng có ai được đến cùng Ta, và Ta sẽ làm cho người đó sống lại nơi ngày sau rốt.' (Giăng 6:44).

Thế anh Đăng thì sao, người thầy thiền định của tôi thì sao? Giờ này anh đã tin Chúa chưa? Tôi không biết. Người thầy thiền định của tôi có được tiền định để tin Chúa không? Tôi cũng không biết. Nhưng anh ấy tin Chúa được không? Được chứ! Chúa có ngăn cản anh tin Chúa không? Không! Vì Chúa đã chết cho anh Đăng mà, cũng như đã chết cho tôi, và cho toàn thể nhân loại, vì 'Đức Chúa TrờI yêu thương thế gian đến nỗi đã ban Con Một của Ngài, hầu cho hễ ai tin Con ấy, không bị hư mất nhưng được sự sống đời đời' (Giăng 3:16). Rõ ràng Chúa đang đứng giang hai bàn tay đẫm máu vô tội vì bị tội ác đóng đinh và kêu mời mọi người không phân biệt màu da sắc tộc: 'Hỡi những kẻ mệt mỏi và gánh nặng, hãy đến cùng Ta, Ta sẽ cho các con được yên nghĩ. Ta có lòng nhu mì, khiêm nhường; nên hãy gánh lấy ách của Ta, và học theo Ta; thì linh hồn các con sẽ được yên nghĩ. Vì ách Ta dễ chịu và gánh Ta nhẹ nhàng.' (Ma-thi-ơ 11:28-30).

Xin dâng Chúa cả cuộc đời còn lại của con để yêu Chúa và yêu người lân cận như yêu chính con. Ngày ấy Chúa gieo hạt Tin Lành Trổ cây, sinh trái, lá rất xanh; Chim trời muôn hướng vui xây tổ. Ôi mộng nào hơn sống vĩnh sanh! Từ đấy thiên đàng ngự nơi đây Giữa cõi trần gian phủ trời mây. Chúa đem Nước Ngài cho ta nếm Một chút thiên đàng cũng đủ say. Cõi dương gian say rượu, say tiền; Riêng tôi say nắng mới bên hiên Chiều ngã vui mây ngàn bát ngát Đêm về Lời Chúa ủ kề bên. Có phải thế gian biến dạng hình Hay trời chuyển dáng hóa nên xinh Không! Đời vẫn thế, trời cũng vậy Có Chúa lòng này được tái sinh.

=========================
Hãy xin sẽ được, hãy tìm sẽ gặp, hãy gõ cửa sẽ mở cho
-Đọc ở một nơi nào đó-
Pagutd - Pagging Script for Blogger Blogs by Vietutd Dot Com